Information
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Những năm gần đây, ngành chăn nuôi nói chung, chăn nuôi lợn, gà nói riêng đã đạt những tiến bộ đáng kể về giống, kỹ thuật nuôi dưỡng, cơ sở chuồng trại, quản lý dịch bệnh,... Hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán, mang tính tận dụng, tự cung tự cấp, tuy còn chiếm một tỷ lệ đáng kể, chủ yếu ở các vùng xa đô thị, vùng sâu, vùng khó khăn, nhưng đang dần bị thay thế bởi loại hình chăn nuôi tập trung, tuy còn ở quy mô vừa và nhỏ. Các cơ sở chăn nuôi này chủ yếu được xây dựng gần các khu cư dân đông đúc, các khu công nghiệp tập trung người lao động nhằm tạo vành đai cung cấp thực phẩm tại chỗ hoặc vệ tinh với số lượng lớn, chất lượng cao, đáp ứng thị hiếu sử dụng thực phẩm tươi (thực phẩm không qua cấp đông) của người tiêu dùng.
Bên cạnh những ưu điểm không thể phủ nhận của chăn nuôi tập trung, vấn đề vệ sinh môi trường chuồng nuôi và ảnh hưởng của chúng tới môi trường sống (không khí, đất, nước) của cư dân sống gần các cơ sở chăn nuôi này đang là vấn đề được quan tâm. Nguồn chất thải rắn và lỏng do vật nuôi thải ra bị tích tụ lại dẫn đến các chất đạm (nitơ) chuyển thành 1 lượng khá lớn khí NH3. Trong điều kiện hiếu khí, NH3 được VSV chuyển thành NO3. Khi thấm xuống đất, một phần NO3 được vi khuẩn kỵ khí biến thành NO, NO2, N2O; phần còn lại, theo thời gian, ngấm vào nước gây ô nhiễm nguồn nước ngầm. Khí NO2 bay vào không khí, gây tác động xấu đến tầng ozon của khí quyển bao quanh trái đất, trong đó có gây hiệu ứng nhà kính. Mùi hôi của phân, nước tiểu do vật nuôi thải ra với số lượng lớn phát tán vào không khí đã ảnh hưởng xấu đến đời sống hàng ngày của người dân. Các chất kim loại, đặc biệt là các kim lại nặng, cũng đang là tác nhân gây ô nhiễm đất và nước được các nhà khoa học và quản lý quan tâm. Để thực thi Luật Môi trường, hạn chế gây ảnh hưởng xấu đến môi sinh và tạo thêm nguồn phân bón hữu cơ cho sản xuất nông nghiệp đã có khá nhiều phương án xử lý chất thải chăn nuôi như gắn chăn nuôi với trồng trọt, công nghệ biogas, ủ phân,…được lựa chọn áp dụng. Tuy nhiên, môi trường chăn nuôi và ô nhiễm do chất thải có nguồn gốc từ chăn nuôi vẫn đang là vấn đề nội cộm, gây không ít tranh luận trong cuộc sống, xung quanh bàn hội nghị, trên báo giới.
Để có số liệu đánh giá hiện trạng môi trường chuồng nuôi và tình hình xử lý các loại chất thải tại các cơ sở chăn nuôi lợn, gà có quy mô tập trung, làm cơ sở cho việc phát triển ngành hàng phân bón hữu cơ từ nguồn chất thải chăn nuôi, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường sống của người dân, chúng tôi tiến hành thực hiện nội dung nghiên cứu này.

II. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
II.1 Nội dung nghiên cứu
- Hiện trạng môi trường chuồng nuôi và tình hình quản lý chất thải rắn, lỏng tại các cơ sở chăn nuôi lợn, gà có quy mô tập trung
- Phân tích, đánh giá các phương thức và hiệu quả xử lý chất thải chăn nuôi tại các cơ sở chăn nuôi lợn, gà có quy mô tập trung
II.2 Phương pháp nghiên cứu
- Lựa chọn điểm nghiên cứu: Thông qua cán bộ quản lý chăn nuôi các địa bàn, quy mô chăn nuôi của từng cơ sở để lựa chọn cơ sở đại diện
- Thu thập số liệu: phỏng vấn trực tiếp cơ sở chăn nuôi và qua Phiếu điều tra
- Lấy mẫu và phân tích mẫu: theo TCVN tương ứng
Chỉ tiêu phân tích Phuơng pháp lấy mẫu Phuơng pháp phân tích
pH TCVN5999-1995 pH metter
COD TCVN5999-1995 COD Reactor
BOD5 TCVN5999-1995 BOD Trak
S2- TCVN5999-1995 DR/2010-HACH
NH3 TCVN5999-1995 DR/2010-HACH
TN TCVN5999-1995 DR/2010-HACH
TP TCVN5999-1995 DR/2010-HACH
TSS TCVN5999-1995 TCVN4560-1988

- Địa điểm phân tích: Trung tâm kiểm tra vệ sinh thú y TW1
- Thời gian tiến hành: từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2007

III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Kết quả điều tra tại các cơ sở chăn nuôi lợn và gà có quy mô tập trung thuộc Hà Nội, Hà Tây, Ninh Bình, Nam Định, Nghệ An, Bình Dương, Đồng Nai cho thấy:
III.1 Kiểu chuồng nuôi
a. Chuồng nuôi lợn
Kết quả điều tra tại 10 cơ sở chăn nuôi lợn tập trung (trong đó có 5 cơ sở được lấy mẫu để phân tích) cho thấy hiện nay trong sản xuất có 3 phương thức nuôi phổ biến là:
- nuôi lợn ngay trên ô chuồng có nền bê tông hoặc lát gạch: chủ yếu để nuôi lợn thịt giống lai, lợn nái nội.

IV. K ẾT LU ẬN
+ Đã tiến hành điều tra, đánh giá hiện trạng phế thải và tình hình xử lý phế thải tại 5 cơ sở chăn nuôi lợn và 4 cơ sở chăn nuôi gà tập trung tại một số tỉnh đồng bằng sông Hồng và miền Đông Nam Bộ; lấy mẫu và phân tích đánh giá các tính chất vật lý, hoá học và sinh học của mẫu phế thải. Kết quả phân tích cho thấy không khí môi trường tại các trang trại chăn nuôi theo mô hình kín các chỉ tiêu kiểm tra đều đạt theo qui định về giới hạn cho phép theo Tiêu chuẩn ngành, trong khi đó các cơ sử chăn nuôi lợn và gà theo mô hình mở có độ nhiễm khuẩn không khí xấp xỉ giới hạn.
+ KÕt qu¶ ph©n tÝch chØ tiªu vật lý, hóa học mÉu chÊt th¶i láng sau biogas so víi tr*íc khi ®*îc xö lý cho thấy hàm lượng c¸c chØ tiªu giảm đ¸ng kể sau khi xử lý. Tuy nhiªn, ®èi chiÕu víi giíi h¹n mµ tiªu chuÈn ngµnh quy ®Þnh, chØ cã 2 chØ tiªu lµ pH vµ l*îng N tæng sè lµ ®¹t tiªu chuÈn møc B, c¸c chØ tiªu cßn l¹i ®Òu v*ît, thËm chÝ v*ît gÊp nhiÒu lÇn nh* COD (3-4 lÇn), SS (5-6 lÇn), Amoniac (h¬n 30 lÇn)
+ Kết quả phân tích cho thấy trong phế thải chăn nuôi lợn, gà đều chứa quần thể vi sinh vật gây và trứng giun rất cao. Kết quả kiểm tra quần thể vi sinh vật gây bệnh trong phế thải chăn nuôi gà cũng cho thấy trong phân gà chứa rất nhiều vi sinh vật gây bệnh đường ruột và trứng giun. Điều này cho thấy nguy cơ các mầm bệnh phát triển và bệnh tật lây nhiễm sang cho người dân là rất cao.
Tài liệu