Information
MỞ ĐẦU


Sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, sự phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ hội nhập với nền kinh tế quốc tế đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của xã hội nói chung và giáo dục nói riêng. Trước xu thế toàn cầu hóa, giáo dục cũng mang những màu sắc riêng như sự cạnh tranh giáo dục theo xu thế thương mại, xuất và nhập khẩu giáo dục ngày nay không còn là điều mới mẻ nữa. Đa dạng hóa giáo dục và xã hội hóa giáo dục được các nước trên thế giới đặc biệt quan tâm, với các loại hình giáo dục như giáo dục không chính qui, giáo dục từ xa, thậm chí có quốc gia còn công nhận cả những kết quả mà người lao động tích lũy được qua lao động sản xuất và sinh hoạt trong cộng đồng. Giáo dục đã và đang khắc phục sự thiếu công bằng của nó, tạo điều kiện cho mọi người đều có quyền được học tập và học tập suốt đời. Mọi người đều có cơ hội học tập và được khẳng định mình cũng như được công nhận kết quả học tập… Mặc dù vậy nhưng hình như giáo dục vẫn còn nhiều sự bất cập đó là sự thiếu công bằng trong chất lượng giáo dục, người có tiền thì được học tập trong những trường học chất lượng cao hay sang các nước phát triển để học tập và ngược lại những người nghèo thì không đủ điều kiện để theo học tại các trường có chất lượng hoặc có chăng cũng chỉ là số ít…Chính vì điều đó, sự công bằng trong chất lượng giáo dục được nhiều nước quan tâm. Bối cảnh đó đã mang lại cho giáo dục nước ta nhiều cơ hội đồng thời cũng đặt ra cho giáo dục những thách thức lớn: Đó là sự đòi hỏi về chất lượng giáo dục và nguồn nhân lực chất lượng cao với thực trạng chất lượng giáo dục nước nhà còn hạn chế.
Trong những năm qua, giáo dục nước ta đã được Đảng và Nhà nước quan tâm đúng mức với quan điểm “Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu” và nhất quán chỉ đạo “Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển. Nhà nướcưu tiên đầu tư cho giáo dục; khuyến khích và bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư cho giáo dục. Ngân sách nhà nước phải giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lực đầu tư cho giáo dục. [ 28, Điều 13].
Công bằng trong giáo dục được Nhà nước ta quan tâm đặc biệt, hàng loạt các chính sách về giáo dục như: Giáo dục cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em khuyết tật, giáo dục cho người dân tộc thiểu số, giáo dục cho người nghèo (sinh viên, học sinh nghèo được vay vốn để chi phí cho học tập, học sinh nghèo được miễn giảm học phí, được cung cấp sách vở và đồ dùng học tập … thậm chí còn được hỗ trợ cả tiền ăn và quần áo mặc) ….Tạo điều kiện để thế hệ trẻ có đủ điều kiện theo học trong các trường mầm non và phổ thông, chuyên nghiệp…Tuy nhiên hiện nay trẻ em trong độ tuổi đến trường tại các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn vẫn chưa tiếp cận được chất lượng giáo dục ở mức chất lượng tối thiểu.
Do đặc thù miền núi địa hình chia cắt, địa bàn thiếu mặt bằng nên sự phân bố dân cư ở các vùng khó khăn không tập trung. Dân cư sống rải rác ở khe suối, lưng đèo và đỉnh núi…Sự phân bố đó đã có ảnh hưởng không nhỏ đến việc mở trường, mở lớp ở các khu vực này. Mặc dù khi xây dựng trường học các địa phương đã cố gắng đặt ở các nơi trung tâm, đông dân cư song do mật độ dân số nhỏ, dân cư sống không tập trung nên không đáp ứng được tất cả đối tượng học sinh. Một số lớn học sinh vẫn phải đi học xa nhà đến hơn 5 km thậm chí có nơi đến hơn 10 km, nếu là người lớn thì việc đi bộ đã rất vất vả, trong khi đó học sinh trong độ tuổi Tiểu học, THCS thì càng khó khăn hơn. Bản thân các em quá nhỏ để đi bộ xa, nhiều em đi mệt quá nên bỏ học hoặc nếu có đi học cũng rất mệt mỏi không đảm bảo chuyên cần. . . Từ đó chất lượng giáo chưa đảm bảo mức chất lượng tối thiểu. Vậy làm thế nào để huy động tối đa số trẻ trong độ tuổi học sinh Tiểu học, THCS đến trường vàđảm bảo tính chuyên cần cho học sinh nhằm nâng cao chất lượng giáo dục cho các xã đặc biệt khó khăn? Đây chính là một câu hỏi lớn mà chính quyền địa phương các cấp và những nhà quản lý giáo dục cần nghiên cứu tìm ra các biện pháp khả thi nhất để khắc phục.
Mô hình trường PTDTBT dân nuôi đang dần được hình thành, các trường có lớp có học sinh nội trú dân nuôi đã được các địa phương đặc biệt quan tâm. Đại đa số nhân dân các dân tộc thiểu số đều đồng tình ủng hộ, các CBQL và GV có nhận thức đúng và coi đây là giải pháp cho học s inh có hoàn cảnh khó khăn. Tuy nhiên, trong công tác chỉ đạo triển khai thì mỗi địa phương lại mang một sắc thái riêng, tổ chức hoạt động của mỗi trường thì đều mang tính chủ quan của cán bộ quản lý. Chính quyền địa phương cấp xã và gia đình học sinh thì phó mặc cho nhà trường....Do đó hiệu quả giáo dục của mô hình trường PTDTBT dân nuôi chưa cao, nơi nào mạnh thì chất lượng khá, nơi nào ít được quan tâm thì không duy trì được. Trước thực trạng đó cần có một mô hình quản lý khoa học, thiết thực và phù hợp với điều kiện thực tế địa phương trong công tác quản lý trường PTDTBT dân nuôi để nâng cao chất lượng giáo dục cho các xã đặc biệt khó khăn thuộc địa bàn miền núi.
2. Mục đích nghiên cứu

Đề xuất mô hình quản lý trường PTDT bán trú dân nuôi tại các xã có điều kiện đặc biệt khó khăn nhằm huy động tối đa số trẻ trong độ tuổi Tiểu học và THCS góp phần phát triển giáo dục phổ thông ở các địa phương này.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu

Công tác quản lý phát triển loại hình trường PTDT Bán trú dân nuôi.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

Mô hình tổ chức và hoạt động các lớp Bán trú dân nuôi tại các trường Tiểu học, THCS thuộc các xã đặc biệt khó khăn của tỉnh Hà Giang.

4. Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng được mô hình quản lý trường PTDT Bán trú dân nuôi phù hợp với điều kiện thực tiễn của các xã đặc biệt khó khăn và các giải pháp triển khai mô hình đó thì sẽ phát triển được loại hình trường PTDT bán trú dân nuôi, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông tại địa phương.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về mô hình quản lý, mô hình trường PTDTbán trú dân nuôi cấp Tiểu học, THCS thuộc các xã đặc biệt khó khăn.

5.2. Phân tích thực trạng công tác tổ chức hoạt động các lớp Bán trú dân nuôi cấp Tiểu học và THCS thuộc các xã vùng đặc biệt khó khăn tỉnh Hà Giang.
5.3. Đề xuất và khảo nghiệm các giải pháp hoàn thiện mô hình quản lý trường PTDT Bán trú dân nuôi thuộc các xã đặc biệt khó khăn.
6. Phạm vi nghiên cứu

- Nghiên cứu các mô hình quản lý trường Tiểu học, THCS có lớp Bán trú dân nuôi tại các xã đặc biệt khó khăn của tỉnh Hà Giang. Nghiên cứu mô hình quản lý trường PTDT Nội trú.
- Vấn đề nghiên cứu được dựa trên quan điểm chỉ đạo các giải pháp nhằm huy động tối đa số trẻ trong độ tuổi đến trường tại vùng đặc biệt khó khăn
7. Phương pháp nghiên cứu

7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận

Sử dụng nhóm phương pháp này để thu thập thông tin và tập hợp các thông tin lý luận có liên quan đến vấn đề nghiên cứu như:
- Phân tích và tổng hợp lý thuyết;

- Phân loại hệ thống lý thuyết;

- Xây dựng các giả thuyết.



7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.

- Điều tra bằng phiếu hỏi (Anket);

- Tổng kết kinh nghiệm;

- Lấy ý kiến chuyên gia (các nhà khoa học, các nhà giáo dục; các nhà quản lý giáo dục và giáo viên);
8. Những đóng góp của luận văn

- Luận văn góp phần làm rõ cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn việc tổ chức xây dựng mô hình trường PTDT Bán trú dân nuôi tại các xã đặc biệt khó khăn.
- Xây dựng qui trình tổ chức hoạt động và hoàn thiện mô hình quản lý trường PTDT bán trú dân nuôi tại các xã đặc biệt khó khăn.
- Chứng minh tính cần thiết và tính khả thi của mô hình quản lý trường PTDT bán trú dân nuôi đối với các xã đặc biệt khó khăn trong hoàn cảnh giáo dục phổ thông nước ta.
9. Bố cục của luận văn

- Mở đầu.

- Kết quả nghiên cứu:

Chương 1. Cơ sở lý luận của mô hình quản lý trường PTDT Bán trú ở các

xã đặc biệt khó khăn.

Chương 2. Thực trạng các trường PTDT Bán trú dân nuôi ở các xã đặc biệt khó khăn của tỉnh Hà Giang.
Chương 3. Mô hình quản lý trường PTDT Bán trú dân nuôi ở các xã đặc biệt khó khăn của tỉnh Hà Giang.
- Kết luận, khuyến nghị.
Tài liệu