Information
MỞ ĐẦU
Được Đảng và chính phủ quan tâm, ngành giáo dục và Đào tạo nước ta trong nhiều năm trở lại đây đã không ngừng Phát triển lớn mạnh cả về quy mô, số lượng và chất lượng.
Nó đã góp một phần không nhỏ trong chiến lược con người, từng bước đáp ứng yêu cầu của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Xác định được vai trò của mình trong giai đoạn cách mạng mới, Bộ giáo dục & Đào tạo đã ban hành Quyết định 3481/QĐ- BGD & ĐT ngày 20/11/1997 về chương trình bồi dưỡng CBQLGD nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước.Quyết định được thực thi và hàng chục CBQLGD các cấp đã được bồi dưỡng các nội dung mới về đường lối, chính sách giáo dục nhằm nâng cao chất lượng toàn diện học sinh.Từ chương trình bồi dưỡng đó đã có những tác động tích cực, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và có những đóng góp đáng kể vào công tác quản lý giáo dục của đất nước sau 10 năm đổi mới.
I. Đánh giá thực trạng giáo dục Việt Nam
1/Những thuận lợi và khó khăn :
1.1.Những thuận lợi :
Trong bối cảnh kinh tế- Xã hội trong nước và Quốc tế có nhiều biến động, giáo dục Việt Nam đang đối diện với nhiều cơ hội và thách thức. Toàn cầu hóa, nền kinh tế tri thức và cách mạng khoa học công nghệ có những tác động lớn làm thay đổi vai trò chức năng của nhà giáo nói chung và người Hiệu trưởng (lãnh đạo và quản lý) nhà trường nói riêng.
Được sự quan tâm của Đảng và các cấp, các ngành liên quan, ngành giáo dục trong những năm gần đây đã đạt được những thành tựu đáng kể. Đa dạng hóa mô hình trường học được Phát triển rộng khắp cả nước, sự cạnh tranh lành mạnh đó là động lực thúc đẩy chất lượng giáo dục Phát triển trên phạm vi cả nước nói chung và giáo dục Đăk Lăk nói riêng.
Đội ngũ nhà giáo và đặc biệt là cán bộ lãnh đạo quản lý giáo dục của ta ngày một trưởng thành, đảm đương tốt nhiệm vụ, vững vàng trước mọi thử thách đổi mới và đang là một trong những lực lượng nòng cốt thúc đẩy sự nghiệp giáo dục Phát triển theo định hướng XHCN.
kinh tế Chính trị Xã hội ổn định, đời sống nhân dân ngày một nâng cao, CSVC trường học và công tác Xã hội hóa giáo dục ngày càng được quan tâm, Phát triển rộng trên phạm vi toàn cầu. Đồng thời, sự Phát triển của khoa học, Công nghệ thông tin có những tác động tích cực, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và có những đóng góp đáng kể vào công tác quản lý giáo dục của đất nước sau đổi mới. Đây là những thuận lợi lớn góp phần thúc đẩy sự nghiệp giáo dục Phát triển.
1.2.Những khó khăn:
Giáo dục nước ta nói chung mang nhiều đặc thù so với nền giáo dục của một số nước trong khu vực và trên thế giới, bởi điểm xuất phát của chúng ta thấp nên yêu cầu đổi mới giáo dục nhằm đáp úng sự nghiệp CNH, HĐH đất nước hiện nay là một vấn đề rất khó khăn. Đặc biệt là giáo dục Đăk Lăk chúng ta. Một tỉnh miền núi diện tích rộng, dân cư phân bố không đồng đều, với nhiều Dân tộc thiểu số anh em chung sống nên phong tục tập quán có sự khác nhau, văn hóa phong phú mang bản sắc riêng của từng tộc người.Cơ cấu hệ thống trường lớp chưa được phù hợp giữa các cấp học, ngành học, vùng sâu, vùng xa và vùng thuận lợi. Điều kiện trang thiết bị dạy học và CSVC trường lớp còn lạc hậu, chắp vá chưa theo kịp với sự Phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ thông tin. Chưa có sự cân đối giữa cung và cầu trong đào tạo, hoạt động thực tiễn. Đội ngũ nhà giáo và CBQL chưa thực sự đồng bộ, chưa ngang tầm với sự Phát triển của khoa học công nghệ thông tin, lúng túng trong việc giáo dục phổ thông.
Số lượng trường lớp và học sinh ngày càng tăng song chất lượng giáo dục có nguy cơ giảm sút đặc biệt là giáo dục đạo đức lối sống, nhân cách của thanh thiếu niên, đây là một vấn đề nóng bỏng hiện nay.
Trình độ dân trí không đồng đều, nhận thức về việc học tập chưa cao. Một số đồng bào Dân tộc thiểu số còn khó khăn về kinh tế, chưa thực sự quan tâm đến con cái, còn hiện tượng bắt con cái phải nghỉ học để Lao động tăng gia sản xuất làm ra sản phẩm cho gia đình …
Tài liệu