Information

A. LỜI MỞ ĐẦU 3
B. PHẦN NỘI DUNG 6
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA CẢI CÁCH TTHC 6
1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mac-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam về cải cách nền HCNN 6
1.2 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của TTHC 7
1.3 Về nội dung cải cách TTHC 10
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH Ở NGHỆ AN TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 14
2.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An. 14
2.2 Thực trạng công tác cải cách TTHC ở tỉnh Nghệ An trong những năm gần đây 16
2.3 Những hạn chế, tồn tại trong công tác cải cách TTHC của Tỉnh 23
CHƯƠNG III. QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP CỦA TRUNG ƯƠNG VÀ ĐỊA PHƯƠNG TRONG CÔNG TÁC CẢI CÁCH TTHC 25
3.1 Về phía Trung ương 25
3.2 Phương hướng và một số giải pháp chủ yếu trong việc đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính của tỉnh Nghệ An trong thời gian tới 27
C.PHẦN KẾT LUẬN 30
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 31



A. LỜI MỞ ĐẦU

Cải cách thủ tục hành chính là một công việc thuộc nội dung cải cách thể chế hành chính, trong khi đó, cải cách thể chế hành chính là một trong bốn nội dung của Chương trình tổng thể cải cách hành chính. Tuy nhiên, cải cách TTHC lại được đặt ra trước cải cách hành chính, được xem như là khâu đột phá của cải cách hành chính, và trong tiến trình cải cách hành chính, vấn đề TTHC thường xuyên được Chính phủ quan tâm. Đó là vì TTHC hàng ngày liên quan đến công việc nội bộ của một cơ quan, cấp chính quyền, cũng như đến các tổ chức và cá nhân công dân trong mối quan hệ với Nhà nước. Các quyền, nghĩa vụ của mọi công dân đã được quy định ở Hiến pháp hay ở các bộ luật, cũng như các yêu cầu, nguyện vọng của họ có được thực hiện hay không, thực hiện như thế nào đều phải thông qua TTHC do các cơ quan, các cấp chính quyền nhà nước quy định và trực tiếp giải quyết.
Hoạt động quản lý hành chính nhà nước được thể hiện trên hầu khắp các lĩnh vực đời sống xã hội, từ kinh tế, xã hội, văn hoá, y tế, giáo dục, dân tộc, tôn giáo cho đến an ninh - quốc phòng, đối ngoại... Chức năng quản lý nhà nước không chỉ nhằm bảo vệ pháp luật, chế độ chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, các quyền hợp pháp chính đáng của mọi tổ chức và công dân, mà còn tạo điều kiện, môi trường pháp lý, môi trường xã hội thuận lợi cho các tổ chức và công dân làm ăn, sinh sống. Việc tạo điều kiện, môi trường pháp lý thuận lợi cho các tổ chức và công dân sinh sống, phát triển kinh tế thường được xác định như là một chính sách; còn trên thực tế, sự thuận lợi hay khó khăn trong làm ăn, sinh sống của người dân cũng như niềm tin của họ đối với Nhà nước như thế nào lại được thẩm định thông qua các quy định TTHC và cách thức giải quyết các thủ tục ấy.
Trong điều kiện Nhà nước ta thực hiện chủ trương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và tham gia sâu rộng vào các quan hệ quốc tế, thì các nhu cầu của các tầng lớp dân cư trong xã hội cũng tăng lên về số lượng và đa dạng, phong phú, phức tạp về hình thức, nội dung. Tình hình đó đặt ra các yêu cầu mà Nhà nước phải thực hiện: 1- Chuyển đổi cơ chế quản lý thích ứng với cơ chế kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế. 2- Mở rộng và nâng cao khả năng cung ứng dịch vụ, phục vụ xã hội. 3- Khắc phục tình trạng yếu kém, hạn chế, bất cập của bộ máy quản lý, gồm: tổ chức, thể chế, cán bộ - công chức, cơ sở vật chất - tài chính.
Cải cách thể chế hành chính, trong đó có TTHC, là một vấn đề không riêng của Nhà nước, mà còn liên quan đến đời sống của các tầng lớp dân cư trong xã hội. Đó chính là nguyên do đòi hỏi Nhà nước phải dành sự quan tâm nhiều hơn đối với việc cải cách thủ tục hành chính, nhằm đáp ứng các yêu cầu dịch vụ, phục vụ xã hội và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong điều kiện chuyển đổi cơ chế kinh tế.
Hiện nay, các TTHC còn tồn tại một số hiện tượng mang tính khá phổ biến như: rườm ra, trùng chéo, cứng nhắc (hợp pháp nhưng chưa hợp lý, chưa phù hợp thực tế); thủ tục cũ, mới lẫn lộn. Bên cạnh đó, việc ban hành TTHC có lúc, có nơi còn tuỳ tiện, kể cả ban hành "giấy phép con"; cách thức giải quyết thủ tục vẫn còn hiện tượng cửa quyền, hạch sách, chậm trễ theo lối "dân cần, quan không vội” và vẫn còn qua nhiều khâu trung gian lòng vòng; thẩm quyền, trách nhiệm giải quyết thủ tục nhiều khi không rõ và vẫn còn hiện tượng tổ chức, công dân (khách hàng) đi lại nhiều lần, ca thán hoặc lo lót, hối lộ để được việc.
Có thể nói, tính bức xúc của việc đẩy mạnh cải cách TTHC không chỉ nhìn từ khía cạnh kinh tế, tức là tiết kiệm tiền của, là xây dựng môi trường pháp lý để các thành phần kinh tế, các nhà đầu tư yên tâm làm ăn, phát triển; không chỉ nhìn từ khía cạnh xã hội, tức là tạo điều kiện thuận lợi cho người dân thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước. Hơn thế, nó còn xuất phát từ việc sắp xếp, tổ chức bộ máy theo hướng gọn nhẹ, hiện đại; đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức về chuyên môn, nghiệp vụ theo hướng chuyên nghiệp hoá; góp phần bài trừ tệ quan liêu, cửa quyền, hối lộ, làm trong sạch bộ máy nhà nước.
Để làm cơ sở lí luận và thực tiễn cho công tác cải cách TTHC, đã có nhiều công trình nghiên cứu của các chuyên gia, những người tâm huyết. Tuy nhiên, các nghiên cứu ấy chủ yếu ở tầng vĩ mô, còn chung chung, rất ít các công trình nghiên cứu về cải cách TTHC ở những địa phương cụ thể. Nhận thấy đây vẫn là vấn đề mang tính thời sự và cấp thiết, em chọn đề tài: “Công tác cải cách thủ tục hành chính ở tỉnh Nghệ An” làm bài tiểu luận môn “Quản lí hành chính nhà nước”.
Bài tiểu luận của em tập trung làm sáng tỏ nhũng vấn đề sau:
-Cở sở lí luận của cải cách TTHC.
-Thực tế vấn đề cải cách TTHC Nghệ An.
-Nhiệm vụ và giải pháp đặt ra.
Bài tiểu luận được chia thành 3 chương chính:
-Chương I: Cơ sở lí luận của cải cách TTHC.
-Chương II: Thực trạng công tác cải cách TTHC ở tỉnh Nghệ An trong những năm gần đây.
-Chương III: Quan điểm, giải pháp để tiếp tục đẩy đẩy mạnh công tác cải cách TTHC của Trung ương và địa phương.
Trong phạm vi kiến thức hạn hẹp, bài viết không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự đóng góp, bổ sung ý kiến của các thầy cô để những bài viết sau của em được hoàn chỉnh hơn.







B. PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA CẢI CÁCH TTHC
1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mac-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam về cải cách nền HCNN
Các nhà kinh điển theo học thuyết Mác - Lênin đã có những tư tưởng bước đầu về cải cách nền HCNN, đặc biệt những tư tưởng của Lênin.
Trong quá trình lãnh đạo nhà nước Xô Viết, Lênin rất chú trọng đối với công tác cải cách nền hành chính. Người coi đây là cơ sở thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế - xã hội.
Trong cải cách nền hành chính, Lênin nhấn mạnh đến việc sắp xếp, tinh giảm bộ máy hành chính và thực hành tiếp kiệm. Người nhấn mạnh: “Nhiệm vụ cấp thiết, chủ yếu nhất lúc này và trong những năm sắp tới là không ngừng tinh giảm bộ máy Xô Viết và giảm bớt chi phí của nó…xóa bỏ tác phong lề mề hành chính, bệnh quan liêu và giảm bớt các khoản chi tiêu phi sản xuất”.
Cùng với việc thiết lập một hệ thống quản lí mới, Lênin xúc tiến việc cải cách chính để đảm bảo cho bộ máy nhà nước vận hành thông suốt. Lê nin coi trọng việc cải cách, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, giảm bớt những khâu xét duyệt giấy tờ không cần thiết.Người đặc biệt lưu ý tới việc soạn lại các quy định thật cơ bản, thiết thực đã tính toán chính xác để thi hành có hiệu quả.
Trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người vận dụng đầu tiên và sáng tạo những quan điểm trên của Lênin trong việc xây dựng một nền hành chính quốc gia thực sự hiện đại và hoạt động có hiệu quả. Ngay từ buổi đầu xây dựng một nước Việt Nam độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiến hành xây dựng một nền hành chính phù hợp với yêu cầu mới, mà việc đầu tiên là ban hành các văn bản quy định quy chế hoạt động của các cấp các ngành.
Người yêu cầu “phải xây dựng một nền hành chính của dân, do dân và vì dân”. Giảm thiểu những sách nhiễu, phiền hà trong giải quyết công việc hành chính. Thủ tục hành chính phải phù hợp với yêu cầu giải quyết công việc theo đúng quy định, song cũng cần phù hợp với trình độ của nhân dân.
Người lên án mọi hành vi cửa quyền, lộng quyền của cán bộ khi giải quyết công việc của nhân dân. Người yêu cầu “cán bộ, đảng viên phải là những công bộc trung thành và tận tình của nhân dân”.
Những quan điểm của Lê nin và chủ tịch Hồ Chí Minh đã được Đảng ta kế thừa và phát triển trong điều kiện hiện nay. Đại hội lần thứ VII của Đảng (tháng 6-1991) đã đánh dấu bước đổi mới, phát triển tư duy về cải cách nền HCNN trong sự nghiệp đổi mới đất nước. Đảng đã đặt trọng tâm vào cải cách hệ thống HCNN trong tổng thể cải cách bộ máy nhà nước và đổi mới hệ thống chính trị. Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 khóa VII (tháng 1-1995) đã ra nghị quyết chuyên đề về cải cách một bước nền HCNN với một hệ thống chủ trương, nội dung, phương hướng cải cách tương đối đồng bộ, cơ bản, chuyên sâu. Các đại hội Đảng lần thứ VIII (tháng 6-1996), IX (tháng 4-2000), X (tháng 4-2006) và các hội nghị Trung ương của Đảng đã tiếp tục bổ sung, phát triển đường lối, chủ trương cải cách, xây dựng nền hành chính nhà nước trong đó trọng tâm là thực hiện cải cách TTHC. Đây là thành tựu nổi bật trong đổi mới, phát triển tư duy lí luận của Đảng về xây dựng nền HCNN nói riêng, về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN nói chung; là kết quả của việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoạch định đường lối, chủ trương cải cách hành chính trong giai đoạn hiện nay.
1.2 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của TTHC
Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về thể chế HCNN. HCNN bao gồm hai bộ phận lớn. Thứ nhất là bộ phận thể chế hành chính thuần túy, thứ hai là bộ phận thể chế hành chính tác động trực tiếp tới hoạt động kinh doanh.
“ Thể chế HCNN là một hệ thống gồm luật, các văn bản pháp quy dưới luật, tạo khuôn khổ pháp lý cho các cơ quan hành chình nhà nước; một mặt thực hiện chức năng quản lý, điều hành mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, cũng như cho mọi tổ chức và cá nhân sống và làm việc theo pháp luật; mặt khác là các quy định về các mối quan hệ trong hoạt động kinh tế cũng như các mối quan hệ giữa các cơ quan HCNN và nội bộ bên trong của các cơ quan này”.
TTHC là một trong số những yếu tố cấu thành thể chế HCNN.
1.2.1. Khái niệm TTHC
Pháp luật hành chính gồm có những quy phạm quy định tổ chức, quyền hạn, nhiệm vụ các cơ quan nhà nước và quyền, nghĩa vụ của công dân và tổ chức xã hội trong lĩnh vực quản lí HCNN. Những quy phạm ấy hợp thành luật hành chính về nội dung. Bên cạnh những quy phạm đó, còn có nhiều quy phạm quy định những trình tự, hình thức trong việc giải quyết những yêu cầu của công dân đối với cơ quan HCNN hoặc những yêu cầu trong nội bộ cơ quan hành chính nhà nước, hay còn gọi là TTHC. TTHC rất đa dạng, nhưng có thể phân thành 2 loại cơ bản: 1) Những thủ tục tiến hành những công việc thuộc quan hệ nội bộ các cơ quan nhà nước. 2) Những thủ tục tiến hành những công việc thuộc quan hệ của cơ quan nhà nước đối với công dân và các tổ chức xã hội. Mỗi loại thủ tục bao gồm nhiều thủ tục riêng áp dụng trong từng loại việc, từng lĩnh vực quản lí. TTHC trong quan hệ với công dân gồm có 2 loại quan trọng: a) TTHC trong việc các cơ quan nhà nước xét, giải quyết những quyền chủ quan hợp pháp của công dân, trong việc công dân kiện một cơ quan nhà nước. b) TTHC trong việc các cơ quan có thẩm quyền xét vấn đề trách nhiệm hành chính và xử phạt các vi phạm của công dân. Còn gọi là thủ tục xử lí vi phạm hành chính, hoặc tố tụng hành chính.
Tài liệu