Information
1. Cuộc đời và sự nghiệp chủ tịch Hồ Chí Minh:
Ngày 1-9-1858 thực dân Pháp nổ súng vào bán đảo Sơn Trà – Đà Nẵng, mở đầu cho cuộc xâm lược nước ta. Trước sức mạnh quân sự của thực dân Pháp cùng với sự bất lực của mình, triều đình nhà Nguyễn đã lần lượt ký với Pháp các hiệp ước năm 1862, hiệp ước năm 1874, và hiệp ước Patơnôt năm 1884, chính thức công nhận Việt Nam trở thành thuộc địa của thực dân Pháp. Từ đây, nhân dân ta phải chịu hai tầng áp bức bóc lột của thực dân Pháp và phong kiến tay sai. Trước tình hình đó, đòi hỏi phải có một bậc nhân tài với một đường lối đúng đắn để giải phóng đất nước.
Ngày 19 – 5 – 1890, tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, Bác Hồ đã ra đời trong một gia đình nhà nho yêu nước gốc nông dân, với tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung.
Thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ Nguyễn Sinh Sắc (Nguyễn Sinh Huy, 1862 – 1929) quê ở làng Sen, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Xuất thân từ một gia đình nông dân, học trò của nhà nho Hoàng Xuân Đường. Đỗ Cử nhân năm 1894, đỗ Phó bản năm 1901. Tháng 5 – 1906, ông được bổ nhậm chức Thừa biện Bộ Lễ, tháng 7 – 1909 được cử làm Tri huyện Bình Khê, Bình Định. Vốn có tinh thần yêu nước, khẳng khái, ông thường chống đối bọn quan lại, tay sai và thực dân Pháp, bênh vực người nghèo, nên ngày 17 – 1 – 1910 ông bị triệu hồi về Huế. Ngày 19 – 5 – 1910 ông bị Hội đồng Nhiếp chính cách chức, xử phạt 100 trượng, sau đó án phạt được đổi thành giáng 4 cấp từ Tòng Thất phẩm xuống dân thường. Ông trở lại Huế dạy học và đi vào các tỉnh Nam Bộ, liên lạc với các sĩ phu bàn về việc nước. Năm 1927, ông về Cao Lãnh làm nghề bốc thuốc, sống cuộc đời thanh bạch đến ngày qua đời. Hiện nay mộ của ông được an tán tại Cao Lãnh – Đồng Tháp.
Cụ bà Hoàng Thị Loan (1868 – 1901) là thân mẫu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, con của nhà nho Hoàng Xuân Đường, quê ở làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Làm nghề nông và dệt vải, bà là người phụ nữ rất nhân hậu và đảm đang, suốt đời cần mẫn làm việc, nuôi chồng ăn học, nuôi dạy các con. Bà qua đời 10 – 2 – 1901. Hiện nay mộ của bà được an tán tại quê nhà.
Bác có anh là Nguyễn Sinh Khiêm, chị là Nuyễn Thị Thanh, cả hai ông bà đã tham gia rất tích cực trong phong trào chống Pháp nên nhiều lần bị Pháp bắt tù khổ sai, cuối đời thì cả hai ông bà đều mất tại quê nhà. Và cậu em út là Nguyễn Sinh Xin nhưng đã mất khi tròn 1 tuổi.
Bác Hồ là người con thứ ba trong gia đình, thuở nhỏ Bác rất thông minh, ham học. Lên 5 tuổi thì Bác theo cha mẹ vào Huế sinh sống, lên 8 tuổi gia đình khó khăn, cụ Nguyễn Sinh Sắc đã đưa hai con trai mình vào ở nhờ nhà ông Nguyễn Sĩ Quyến. Tại đây, cụ Nguyễn Sinh Sắc đã mở lớp dạy chữ Hán cho nhân dân trong vùng và Bác Hồ đã theo cha mình học chữ Hán.
Vào năm 1901 khi mẹ Bác Hồ qua đời thì cha Bác Hồ đã đưa hai anh em về quê nội ở làng Sen sinh sống. Theo phong tục của làng, cụ Nguyễn Sinh Sắc đã đổi tên hai con trai mình, Nguyễn Sinh Khiêm thành Nguyễn Tất Đạt, Nguyễn Sinh Cung thành Nguyễn Tất Thành, với mong muốn hai con sau này sẽ thành đạt.
Năm 18 tuổi Nguyễn Tất Thành đã làm đơn xin vào học ở trường Quốc học Huế.
Tháng 5 – 1908, Nguyễn Tất Thành tham gia phong trào chống thuế của nhân dân Trung kì. Tại đây Nguyễn Tất Thành làm thông dịch viên tiếng Pháp cho phong trào cùng với anh trai của mình. Nhờ đó mà Nguyễn Tất Thành đã hiểu rõ nỗi nhục của một người dân mất nước khi chứng kiến cảnh thực dân Pháp đàn áp, thậm chí là bắn giết người dân quê mình. Để rồi từ đó, Người nung nấu một ý định là đi ra nước ngoài để tìm hiểu những từ tự do, bình đẳng, bác ái mà mình đã học từ nền văn minh Pháp.
Năm 1909 Nguyễn Tất Thành hoàn thành bậc trung học tại thành phố Quy Nhơn – Bình Định. Sau đó Người bắt đầu vào Sài Gòn và dừng chân tại Phan Thiết năm 1910 và xin làm giáo viên cho trường tư thục Dục Thanh, tại đây Người dạy thể dục và tiếng Hán.
Năm 1911, Người theo một con tàu buôn rời Phan Thiết vào Sài Gòn. Đầu tháng 6 – 1911, Người đến cảng Nhà Rồng và xin làm phụ bếp trên một tàu buôn của Pháp mang tên Amiral Lautouche Reville, Người lấy tên là Văn Ba. Ngày 5 – 6 – 1911, Người chính thức rời cảng Nhà Rồng để ra đi tìm đường cứu nước, Người đã đi qua rất nhiều nước.
Ngày 6 – 7 – 1911 lần đầu tiên Người đến cảng Macxay của Pháp và ở lại đây khoảng 1 tháng. Ngày 15 – 9 – 1911 Người làm đơn xin vào học trường thuộc địa Pháp nhưng không được Pháp chấp nhận, đành đáp tàu từ Pháp trở về Đông Dương.
Từ Sài Gòn Người đã đi tiếp qua các nước Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, qua Châu Phi, qua các hải cảng Angiêri, Cônggô,…Năm 1912 Người đến đến New York và sống ở đây khoảng 1 năm. Cuối năm 1913, Người trở lại Pháp sau đó sang Anh sinh sống tại Luân Đôn. Tại đây, Người sống bằng nghề bồi bàn, cào tuyết.
Cuối năm 1917 khi người nghe tin Cách mạng tháng Mười Nga thành công Người đã quyết định trở về Pháp sinh sống và hoạt động cách mạng. Người tham gia vào hoạt động của nhân dân lao động Pháp và tìm hiểu đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị của họ như thế nào.
Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành chính thức tham gia vào Đảng xã hội Pháp. Sau này, khi được hỏi tại sao tham gia vào đảng này thì người trả lời: “chỉ vì đây là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của Đảng cách mạng Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái.”
Tháng 6 – 1919 Người lấy tên Nguyễn Ái Quốc viết bản yêu sách tám điểm gửi đến hội nghị Vecxây đòi các quyền tự do, dân chủ, và bình đẳng của dân tộc Việt Nam. Bản yêu sách đó không được hội nghị Vecxây chú ý đến, nhưng được báo chí tiến bộ Pháp công bố rộng rãi và gây ảnh hưởng chính trị vang dội. Đó là đòn tiến công trực diện đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc vào bọn trùm đế quốc. Người kết luận: những lời tuyên bố dân tộc tự quyết của bọn đế quốc chỉ là trò bịp bợm; các dân tộc bị áp bức muốn được độc lập, tự do thực sự, trước hết phải dựa vào lực lượng của bản thân mình, phải tự mình giải phóng cho mình. Lần đầu tiên một người Việt Nam thấp cổ, bé họng dám đưa vấn đề chính trị của nước mình – một nước thuộc địa đòi chính phủ Pháp trao trả quyền tự do độc lập. Lần đầu tiên Nguyễn Ái Quốc xuất hiện, thực dân Pháp đã vô cùng lo sợ cho mật thám theo dõi ngày đêm.
Tháng 7 – 1920, Nguyễn Ái Quốc được đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin trên báo Nhân Đạo – cơ quan ngôn luận của Đảng xã hội Pháp. Từ đây, Người đã tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam. Ngày 25 – 12 – 1920 Người tham gia Đại hội lần thứ 18 của Đảng xã hội Pháp họp ở Tua. Tại đây, Người đã bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế thứ Ba và tham gia sáng lập Đảng cộng sản Pháp, trở thành Đảng viên Đảng cộng sản dầu tiên ở Việt Nam. Sự kiện đó đánh dấu bước ngoặc quyết định trong cuộc đời hoạt động của Người; từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản, mở đường giải quyết đúng đắn về đường lối giải phóng dân tộc của Việt Nam.
Tài liệu