Trên thế giới hiện nay đang tồn tại các quan hệ đất đai như: Sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu tư nhân chiếm đại đa số các quốc gia. Ở Nước ta, tồn tại một hình thức sở hữu đất đai duy nhất đó là Sở hữu toàn dân với Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thực hiện quyền làm chủ của mình việc thông qua việc Nhà nước trao cho quyền sử dụng đất. Nhà nước thực hiện quyền sở hữu của mình bằng việc xác lập các chế độ pháp lý nhằm quản lý và sử dụng một cách hiệu quả phù hợp với những đặc điểm của Đất nước.
Cơ sở khoa học của công tác quản lý đất đai được nhà nước ta cụ thể hoá bằng hàng loạt các văn bản luật do nhà nước ban hành.
Hiến pháp năm 1980 ra đời quy định “ đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý”. Trong thời gian này tuy chưa có Luật đất đai nhưng hàng loạt các văn bản mang tính pháp luật của Nhà nước về đất đai ra đời.
- Quyết định số 201/QĐ-CP ngày 01/07/1980 của Chính phủ ban hành về việc “ Thống nhất quản lý ruộng đất trong cả nước”.
- Quyết định số 56/QĐ-ĐKTK do Tổng cục Quản lý ruộng đất ban hành ngày 05/11/1980 về việc quy định hệ thống hồ sơ trong quá trình đăng ký ruộng đất.
- Chỉ thị 299/CT-TTg ngày 10/11/1980 do Thủ Tướng Chính phủ ban hành về “ Công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký thống kê ruộng đất trong cả nước”.
Ngày 18/12/1980 Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Hiến pháp sửa đổi, trong đó quy định: “ Đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, ở vùng biển và thềm lục địa…đều thuộc sở hữu toàn dân và Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch chung”. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để thực thi công tác quản lý đất đai trên cả nước, lần đầu tiên Nhà nước xác lập đầy đủ quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai.
Ngày 29/12/1987 Quốc Hội thông qua Luật đất đai đầu tiên và có hiệu lực thi hành từ ngày 08/01/1988.
Ngày 05/04/1988 Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 10/1988/NQ-TW về việc giao đất cho hộ gia đình sử dụng ổn định lâu dài, là dấu mốc quan trọng đối với sự phát triển nông nghiệp.
Ngày 14/07/1988 Tổng cục Quản lý ruộng đất ra Quyết định số 201/QĐ-ĐKTK ngày 14/07/1988 về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 06/11/1991 Hội đồng bộ trưởng ra Chỉ thị số 364/1991/CT-HĐBT về việc xác định ranh giới hành chính.
Đến năm 1992, Hiến pháp ra đời quy định: “ Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật” (Điều 17). Trên cơ sở đó, ngày 14/07/1993 Luật Đất đai sửa đổi năm 1993 được ban hành, đây là văn bản đầu tiên Nhà nước xác nhận đất đai có giá đồng thời thể hiện rõ quyền lợi và nghĩa vụ của người sử dụng đất, sự biến động đất đai theo


Sau khi nghiên cứu tình hình quản lý, sử dụng đất trên địa bàn huyện Tam Đảo, trước những vấn đề còn tồn tại, theo ý kiến của cá nhân, tôi có một số kiến nghị sau:
- Thông qua hệ thống thông tin đại chúng cần tuyên truyền và phổ biến sâu rộng Luật Đất đai và các chủ chương chính sách của Đảng và Nhà nước để nhân dân hiểu rõ các quyền và nghĩa vụ của mình để họ tự giác thực hiện. Có thể tuyên truyền bằng các cuộc thi tìm hiểu về Luật Đất đai giữa các xã trên địa bàn huyện.
- Có kế hoạch bồi dưỡng và ổn định đội ngũ cán bộ địa chính xã để tiếp thu những tiến bộ mới về khoa học kỹ thuật trong ngành địa chính, có như vậy thì công tác quản lý đất đai mới được nâng cao, bảo đảm công bằng xã hội cho người sử dụng đất.
- Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải được thành lập một cách khách quan, khoa học, bám sát tình hình điều kiện kinh tế xã hội của địa phương và nhu cầu sử dụng các loại đất.
- Phải buộc những người đứng đầu cơ quan, đơn vị Nhà nước chịu trách nhiệm trước những hành vi vi phạm Luật đất đai do họ quản lý, đặc biệt đối với các hành vi do người quản lý cố tình làm trái luật, lách luật thì phải xử lý nghiêm minh để tạo lòng tin cho nhân dân, làm gương cho nhân dân thực hiện nghiêm chỉnh luật đất đai.
- Nhanh chóng thành lập văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất giúp việc cho phòng tài nguyên và môi trường.