LỜI NÓI ĐẦU
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính quan trọng nhất trong nền
kinh tế. Và hoạt động cho vay là một trong những hoạt động quan trọng nhất
không những đối với Ngân hàng, mà còn là còn đối với các doanh nghiệp , tổ
chức, cá nhân, hộ gia đình.
Trong giai đoạn kinh tế đang phát triển như hiện nay. Nếu các doanh
nghiệp không đầu tư vốn để mở rộng sản xuất thì khó mà tồn tại lâu dài. Các
cá nhân, hộ gia đình, các tổ chức thiếu vốn nếu không vay vốn tạo điều kiện
phục vụ các nhu cầu cần thiết cho công việc, cuộc sống của mình thì sẽ gặp
nhiều khó khăn. Với Ngân hàng, hoạt động cho vay là hoạt động đem lại phần
lớn thu nhập cho Ngân hàng, cùng với nhiều vai trò khác thì hoạt động cho
vay là một trong những hoạt động có tính chiến lược của Ngân hàng .
Trong giai đoạn hiện nay, có rất nhiều Ngân hàng cùng tồn tại và phát
triển, tạo nên sự cạnh tranh giữa các Ngân hàng. Trong hoạt động cho vay của
Ngân hàng tuy đã đạt được những thành tựu, nhưng còn gặp nhiều khó khăn.
Do đó vấn đề “Tăng cường hoạt động cho vay” nhằm nâng cao, mở rộng hoạt
động cho vay của Ngân hàng, giúp cho Ngân hàng hàng có thể tăng cường
hoạt động kinh doanh của mình, hội nhập với nền tài chính trong khu vực là
rất cần thiết.
Qua quá trình thực tập tại chi nhánh Ngân hàng Công thương Tỉnh Hưng
Yên, em đã có thời gian thực tế, tìm hiểu về các hoạt động của Ngân hàng, đặc
biệt là hoạt động cho vay. Kết hợp với những kiến thức đã được học, em đã
lựa chọn đề tài “Giải pháp tăng cường hoạt động cho vay tại Ngân hàng
Công Thương Tỉnh Hưng Yên” làm chuyên đề tốt nghiệp của mình.
Ngoài lời nói đầu và kết luận, chuyên đề được kết cấu thành 3 chương:
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Vũ Thị Thu Hiền- TCC 41A 55
CHƯƠNGI: HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CHƯƠNGII: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG CÔNG
THƯƠNG TỈNH HƯNG YÊN
CHƯƠNGIII: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY
TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG TỈNH HƯNG YÊN
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Vũ Thị Thu Hiền- TCC 41A 55
CHƯƠNG I
HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I. CÁC HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền
kinh tế. Ngân hàng bao gồm nhiều loại tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền
kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó Ngân hàng thương
mại thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng
các Ngân hàng.
Ngân hàng thương mại có một quá trình phát triển lâu dài từ thấp đến
cao, từ đơn giản đến phức tạp. Khi mới ra đời, tổ chức và nhiệm vụ hoạt động
của nó rất đơn giản nhưng càng về sau theo đà phát triển của kinh tế hàng hoá,
tổ chức của các Ngân hàng cũng như nhiệm vụ của nó ngày càng phát triển và
hoàn thiện hơn.
Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính trung gian mà hoạt động
chủ yếu của Ngân hàng thương mại là tiếp nhận các khoản tiền nhàn rỗi trong
nền kinh tế với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực
hiện các nhiệm vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán và cung cấp các
dịch vụ cho doanh nghiệp, tư nhân, hộ gia đình, các nhà xuất nhập khẩu.
Đa số các nhà kinh tế học đều cho rằng Ngân hàng thương mại là một
loại hình doanh nghiệp đặc biệt hoạt động và kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ.
Ngân hàng thương mại có những đặc điểm sau:
Ngân hàng thương mại giống như các tổ chức kinh doanh khác là hoạt
động vì mục đích thu lợi nhuận nhưng là tổ chức đặc biệt vì đối tượng kinh
doanh là tiền tệ, hoạt động tín dụng là đặc trưng chủ yếu được thực hiện chủ
yếu bằng cách thu hút vốn tiền tệ trong xã hội để cho vay.

Nguồn vốn phục vụ hoạt động kinh doanh: Nguồn vốn phần lớn là tiền
gửi của các tổ chức kinh tế trong nền kinh tế. Đặc điểm nổi bật của Ngân hàng
thương mại là không sử dụng nguồn vốn sở hữu vào trong các hoạt động kinh
doanh của mình như cho vay, mua bán chứng khoán. Hơn nữa nguồn vốn sở
hữu của Ngân hàng thương mại chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng nguồn
vốn của Ngân hàng thương mại. Trong khi đó các loại hình kinh tế khác lại sử
dụng chủ yếu nguồn vồn sở hữu vào các hoạt động kinh doanh. Sự khác biệt
của Ngân hàng thương mại với các định chế tài chính khác là Ngân hàng
thương mại có quyền huy động tiền gửi trong nền kinh tế mỗi khi cân vốn để
tiến hành các hoạt động kinh doanh của mình. Công ty tài chính thì hoạt động
chủ yếu bằng nguồn vốn sở hữu của mình, nếu thiếu các công ty tài chính có
thể vay trên thị trường các công ty cổ phần, muốn tăng nguồn vốn huy động
của mình thì có thể phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu. Không có một định
chế tài chính nào ngoài Ngân hàng thương mại có thể nhận tiền gửi từ các tổ
chức cá nhân và các tổ chức trong nền kinh tế.
Khách hàng của Ngân hàng thương mại là những người đóng vai trò hai
mặt đối với Ngân hàng. Thứ nhất, họ là những người cung cấp các điều kiện
để Ngân hàng hoạt động. Họ là những người tạo nguồn vốn cho Ngân hàng.
Thứ hai, họ là những khách hàng sử dụng các sản phẩm của Ngân hàng, như
cho đi vay, sử dụng các dịch vụ của Ngân hàng. Phần lớn, những khách hàng
này, lại sử dụng chính những đồng tiền mà họ đã gửi vào. Vì vậy, khách hàng
chính là những người cung cấp đầu vào cho Ngân hàng và họ cũng chính là
người sử dụng sản phẩm đầu ra của Ngân hàng.
Ngân hàng là một đơn vị doanh nghiệp theo cách phân nghành kinh tế.
2. Các hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại
2.1. Hoạt động huy động vốn
2.1.1. Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại gồm

2.1.1.1. Nguồn vốn chủ sở hữu
Để bắt đầu hoạt động của Ngân hàng chủ Ngân hàng phải có một lượng
vốn nhất định.
 Nguồn vốn hình thành ban đầu: tuỳ theo tính chất của mỗi Ngân
hàng mà nguồn vốn hình thành vốn ban đầu khác nhau: do ngân sách nhà
nước cấp ,do các bên liên doanh đóng góp, hoặc vốn thuộc sở hữu tư nhân
 Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động: nguồn từ lợi nhuận,
phát hành thêm cổ phần,góp thêm cấp thêm.
 Các quỹ
2.1.1.2. nguồn tiền gửi
 Tiền gửi thanh toán: là tiền của các doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi
vào Ngân hàng để nhờ Ngân hàng giữ hộ, thanh toán.
 Tiền gửi có kì hạn của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội: nhiều
khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội sẽ được chi trả
sau một thời gian xác định.
 Tiền gửi tiết kiệm của dân cư: các tầng lớp dân cư đều có các
khoản thu nhập tạm thời chưa sử dụng. Trong điều kiện có khả năng tiếp cận
với Ngân hàng, họ đều có thể gửi tài khoản nhằm thực hiện các mục tiêu bảo
toàn và sinh lời với các tài khoản.
 Tiền gửi của các Ngân hàng khác
2.1.1.3. Nguồn đi vay và các nghiệp vụ đi vay của Ngân hàng thương
mại
Nguồn tiền gửi là nguồn quan trọng nhất của Ngân hàng thương mại tuy
nhiên, khi cần Ngân hàng thương mại thường vay mượn thêm.
 Vay Ngân hàng nhà nước (vay Ngân hàng trung ương): đây là các
khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi trả. Trong trường hợp

thiếu hụt dự trữ (dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh toán), Ngân hàng thương mại
thường vay Ngân hàng nhà nước.
 Vay các tổ chức tín dụng khác: Đây là nguồn Ngân hàng vay mượn
lẫn nhau và vay của các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên Ngân hàng.
 Vay trên thị trường vốn: như phát hành các giấy nợ
 Các nguồn khác: nguồn uỷ thác, nguồn trong thanh toán
2.1.2. Hoạt động huy động vốn
Ngân hàng kinh doanh ngoại tệ dưới hình thức huy động, cho vay, đầu tư
và cung cấp các dịch vụ khác. Hoạt động vay - hoạt động tạo nguồn vốn cho
Ngân hàng thương mại - đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng
hoạt động của Ngân hàng thương mại. Hoạt động huy động vốn là hoạt động
thường xuyên của Ngân hàng thương mại. Một Ngân hàng thương mại bất kì
nào cũng bắt đầu hoạt động của mình bằng việc huy động nguồn vốn. Đối
tượng huy động của Ngân hàng thương mại là nguồn tiền nhàn rỗi trong các tổ
chức kinh tế, dân cư. Nguồn vốn quan trọng nhất,và chiếm tỷ trọng cao nhất
trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng thương mại là tiền gửi của khách hàng.
Các Ngân hàng thương mại nhận tiền gửi của các cá nhân, các tổ chức
kinh tế xã hội, thậm chí cả nguồn tiền của các Ngân hàng khác.
Khi những người có tiền chưa sử dụng đến họ có thể đem ra đầu tư hoặc
gửi Ngân hàng để nhận tiền lãi. Thông thường họ gửi tiền vào Ngân hàng, vì
đây là cách đơn giản, ít tốn kém chi phí để tìm kiếm cơ hội đầu tư mà vẫn có
lãi và đây là cách ít rủi ro nhất. Ngoài ra người gửi tiền vào Ngân hàng cũng
mong muốn được sử dụng các dịch vụ của Ngân hàng như chuyển tiền cho
người thân ở nơi khác, thanh toán hộ các hoá đơn phát sinh, bảo quản các tài
sản có giá trị lớn... Khi gửi tiền vào Ngân hàng, người gửi tiền có thể vay
Ngân hàng một khoản tiền mà không cần thế chấp vì họ đã có một số tiền gửi
nhất định ở Ngân hàng, coi như một khoản đảm bảo.

Còn Ngân hàng có thể muốn tìm kiếm thêm thu nhập từ lệ phí nhận tiền
gửi, tuy nhiên lý do chính Ngân hàng nhận tiền gửi để tạo nguồn cho vay, từ
đó Ngân hàng có thể đầu tư, kinh doanh tìm kiếm được những khoản thu nhập
lớn hơn.
Hoạt động nhận tiền gửi của Ngân hàng có ý nghĩa to lớn với người gửi
tiền, nền kinh tế, cũng như bản thân Ngân hàng. Thông qua hoạt động này mà
Ngân hàng có thể tập hợp được các khoản tiền nhàn rỗi, nhỏ bé, phân tán tạm
thời chưa sử dụng với các thời hạn hết sức khác nhau thành nguồn tiền lớn tài
trợ cho nền kinh tế, hoặc cho các cá nhân có nhu cầu sử dụng. điều khó khăn
nhất mà Ngân hàng phải thực hiện là sử dụndụng các khoản tiền gửi có thời hạn
rất khác nhau để cho vay những món có thời hạn xác định,vì thế mà Ngân
hàng phải quản lí tốt thời hạn của các nguồn vốn của mình thì mới duy trì
được hoạt động có hiệu quả, tránh được những rủi ro về khả năng thanh toán.
Việc tập hợp được những nguồn tiền nhàn rỗi trong dân chúng để đưa vào
kinh doanh đã góp phần tiết kiệm và sử dụng có hiệu quả nguồn lực của nền
kinh tế. Ngoài ra hoạt động nhận tiền gửi của Ngân hàng cũng góp phần tiết
kiệm chi phí lưu thông tiền tệ. Đặc biệt trong nền kinh tế phát triển nếu dân
chúng có thói quen gửi tiền vào Ngân hàng để sử dụng các dịch vụ của Ngân
hàng thì điều này sẽ góp phần giúp chính phủ quản lí được thu nhập của người
dân.
Một trong những nguồn vốn không kém phần quan trọng, là nguồn vốn
phát hành kì phiếu, trái phiếu. Việc phát hành kì phiếu hay trái phiếu phụ
thuộc vào quy mô vốn cần huy động , thời gian huy động vốn, cơ cấu nợ và tài
sản của Ngân hàng.
Các hoạt động huy động nguồn vốn trên đây hình thành nên tài sản nợ
của Ngân hàng và Ngân hàng phải có trách nhiệm chi trả đối với tất cả các
nguồn vốn huy động được theo yêu cầu của khách hàng. Quy mô và cơ cấu
nguồn vốn quyết định đến hoạt động của Ngân hàng. Do đó quản lí nguồn vốn

phù hợp và sử dụng vốn có hiệu quả là một vấn đề mang tính chiến lược đối
với mỗi Ngân hàng .