Information
MỞ ĐẦU
Nước ta có nguồn nước thiên nhiên khá dồi dào. Tuy nhiên hiện nay phần lớn trong số đó
đều bị ô nhiễm nặng vấn đề này làm cho nguồn nước sạch ngày càng khan hiếm để sử
dung cho mục đích sinh hoạt, ăn uống... Một trong những vấn đề nan giải và chiếm phạm
vi khá rộng là nước bị chua phèn.
Nước chua phèn đã gây nhiều ảnh hưởng đến sinh hoạt cũng như sức
khỏe của con người.
Trong nước thiên nhiên, kể cả nước mặt và nước ngầm đều có chứa sắt. Hàm lượng sắt và
dạng tồn tại của chúng tùy thuộc vào từng loại nguồn nước, điều kiện môi trường.
Trong nước mặt, sắt tồn tại ở dạng hợp chất Fe
3+
, dạng keo hay huyền phù. Hàm lượng
này thường không lớn và sẽ được khử trong quá trình làm trong nước.
Trong nước ngầm, sắt thường tồn tại ở dạng ion sắt hóa trị 2 trong thành phần của các
muối hòa tan như bicacbonat, sunfat, clorua..Hàm lượng sắt này thường cao và phân bố
không đồng đều trong các lớp trầm tích dưới sâu.
Khi trong nước có hàm lượng sắt cao, nước có mùi tanh và có nhiều cặn bẩn màu vàng,
làm giảm chất lượng nước ăn uống sinh hoạt và sản xuất. Vì vậy, khi trong nước có hàm
lượng sắt lớn hơn giới hạn cho phép thì phải tiến hành khử sắt.

I . GIỚI THIỆU CHUNG
1. Phèn là gì?
Là những muối kép có cấu tạo tinh thể đồng hình (đa
phần có 8 mặt) tạo nên bởi các anion sunfat SO4
-2
(cũng
có thể là anion selenat SeO4
-2
; anion phức SeF4
-2
hoặc
ZnCl4
-2
) và cation của hai kim loại có hoá trị khác
nhau.
Công thức chung của phèn là M
I
M
III
(SO4)2.12H2O; MI
là kim loại hoá trị 1 như Na
+
, K
+
, Ce
+
, Rb
+
, hoặc NH4
+
;
M
III
là ion kim loại hoá trị 3 như Al3
+
, Fe3
+
, Mn3
+
, V3
+
,
Ti3
+
Co 3
+
, Ga3
+
, Rb3
+
, Cr3
+
.
Thường gặp một số loại phèn cụ thể như : Phèn nhôm
và Phèn sắt.
Phèn sắt:
Là một muối kép của sắt (III) sunfat với muối sunfat của kim loại kiềm hay amoni.
Ví dụ: kali sắt sunfat [K2SO4.Fe2(SO4)3.24H2O hay KFe(SO4)2.12H2O].
Ở dạng tinh khiết, phèn sắt là tinh thể không màu, nhưng thường có màu tím vì có vết
mangan; tan trong nước.
Phèn sắt được điều chế bằng cách kết tinh hỗn hợp sắt (III) sunfat với muối sunfat của
các kim loại kiềm hoặc amoni.
Phèn nhôm:
Gồm hai loại:
• Phèn nhôm đơn: Al2.(SO4)3.18H2O.
• Phèn nhôm kép: muối kép của sunfat nhôm với sunfat kim loại kiềm hoặc amoni.
a) Kali nhôm sunfat hay phèn nhôm kali (thường gọi: phèn chua) [KAl(SO4)2.12H2O hay
K2SO4.Al2(SO4)3.24H2 O]:Tinh thể lớn hình bát diện, trong suốt, không màu,vị chát, cảm
giác se lưỡi; khối lượng riêng 1,75 g/cm
3
; tnc= 92
o
C; đun nóng đến 200
o
C thì mất nước
kết tinh, thành phèn khan ở dạng bột trắng (thường gọi là phèn phi hoặc khô phèn) ít tan
trong nước.
Tài liệu