Information
LỜI MỞ ĐẦU
Công ty Chè Sông Cầu là doanh nghiệp lớn của tổng công ty chè Việt Nam nằm ở phía Bắc vùng chè đặc sản Huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên. Nhiệm vụ chính là trồng trọt, chế biến và xuất khẩu chè các loại.
Hệ thống thiết bị chế biến chè của công ty:
Hiện nay, công ty có hai nhà máy với công suất chế biến 50-60 tấn/ngày, đã có bốn dây chuyền sản xuất, trong đó:
* Hai dây chuyền sản xuất chè đen hoàn thiện, công suất 16 tấn chè búp tươi/ngày, hàng năm sản xuất ra 700 tấn chè đen các loại.
* Một dây chuyền chế biến chè xanh theo công nghệ truyền thống, công suất 10 tấn chè búp tươi/ngày, hàng năm sản xuất ra 300 tấn chè xanh các loại.
* Một dây chuyền thiết bị đồng bộ chế biến chè xanh Nhật Bản hiện đại, công suất 12 tấn chè búp tươi/ngày.
Vùng nguyên liệu chè búp tươi:
Có hơn 800 ha chè do công nhân và nhân dân tự đầu tư trồng mới, hàng năm cung cấp cho các nhà máy 4.500-5.000 tấn chè búp tươi.
Có ha 471 ha chè do Công ty đầu tư tập trung, hàng năm cung cấp cho các nhà máy 2.500-2.800 tấn chè búp tươi.
Sản phẩm của Công ty:
Chè đen Orthodor hàng năm sản xuất và cung cấp cho thị trường 700 tấn.
Chè xanh Việt nam hàng năm có thể sản xuất và cung cấp cho thị trường 300 tấn.
Chè hương các loại sản xuất và cung cấp cho thị trường 150 tấn.
Chè xanh kiểu Nhật Bản hàng năm sản xuất và cung cấp cho thị trường 500 tấn chè xanh dẹt, chè bột theo công nghệ Nhật Bản.

PHẦN 1. GIỚI THIỆU LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA
CÔNG TY CHÈ SÔNG CẦU
1. Từ năm 1962 đến năm 1970
Từ năm 1962: Nông trường đã bắt đầu thực hiện nhiệm vụ chính là trồng chè, từ năm 1964 – 1970 sản lượng chè búp tươi và khô tăng dần.
Trong những năm 1962 – 1970: Nông trường còn thực hiện chăn nuôi gia súc gia cầm để tạo ra sức kéo, trồng lúa,ngô, khoai…
Năm 1966 – 1968: chịu nhiều tổn thất do máy bay Mỹ bắn phá.
Năm 1969 – 1970: Nông trường tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất và tiếp tục phát triển. Thời kỳ này diện tích chè kinh doanh đã có 232 ha.
2. Từ năm 1971 đến năm 1980
Nông trường đã tiến hành trồng mới hàng trăm ha và tìm được giống chè pH, là giống chè có năng suất cao đã được trồng ở đội 7 với 3,8 ha.
Tháng 5/1975: xưởng sản xuất chè xanh trên mặt bằng mới đã đi vào hoạt động.
Năm 1978: Thủ tướng Chính Phủ quyết định cải tạo và mở rộng nông trường Quốc doanh Sông Cầu (Bắc Thái)
3. Từ năm 1981 đến năm 1989
Ngày 24/10/1981 Bộ CNTP quyết định chuyển Nông trường quốc doanh Sông Cầu về Liên hiệp các xí nghiệp công nông chè Việt Nam.
Năm 1985: Là năm đầu tiên sản xuất chè đen xuất khẩu.
Ngày 6/6/1985 Bộ CNTP ra quyết định thành lập xí nghiệp Công Nông nghiệp chè Sông Cầu thuộc Liên hiệp cac xí nghiệp chè Việt Nam.
Năm 1988: chè khô xuất khẩu 270 tấn, thực hiện 295 tấn
4. Từ năm 1990 đến năm 2003
Năm 1994: Xí nghiệp liên kết thương mại với Công ty MARUYASU Nhật Bản.Sự hợp tác này mở ra cho Xí nghiệp nhiều hướng đi mới.
Năm 1995: Bộ Nông nghiệp và PTNT quyết định đổi tên xí nghiệp thành Công ty chè Sông Cầu.
Năm 1996: Công ty tiến hành giao khoán vườn chè theo Nghị định 01/CP ngày 5/1/1995 của Chính phủ.
Năm 1997 Bộ Nông nghiệp và PTNT quyết định xếp hạng doanh nghiệp loại II cho Công ty chè Sông Cầu.
Năm 2000: Là năm có sản lượng chè búp tươi cao nhất: 4905 tấn., số lượng sản phẩm cao nhất: 1050 tấn. doanh thu cao nhất : 23,5 tỷ đồng.
Năm 2002: Công ty chè Sông Cầu vinh dự được nhận phần thưởng cao quý của nhà nước: Huân chương lao động hạng III.
Năm 2003: Do ảnh hưởng của chiển tranh I Rắc, chè thế giới tiếp tùc được mùa, tình trạng cung vượt quá cầu nên doanh thu giảm mạnh.
5. Từ năm 2004 đến năm 2010
Năm 2005: sắp xếp lại doanh nghiệp chuyển từ Công ty sang Công ty TNHH một thành viên chè Sông Cầu, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.
Tháng 7/2009 được sáp nhập vào VP Tổng Công ty chè Việt Nam và đổi tên thành Chi nhánh chè Sông Cầu TCT chè Việt Nam.
Sản xuất kinh doanh vẫn duy trì những sản phẩm truyền thống. Sản lượng bình quân hang năm xấp xỉ 1000 tấn, doanh thu 25 tỷ đồng.
Trong quá trình xây dựng và phát triển, Công ty đã trải qua nhiều thăng trầm, trong xây dựng nhà máy và tiêu thụ sản phẩm.Sau nhiều lần rút kinh nghiệm trong quá trình sản xuất, Công ty đã tổ chức xây dựng 20 ha vườn ươm chè giống Nhật Bản, ngoài ra Công ty còn nhập thêm giống tốt từ các nước khác. Tiến hành tư vấn, hỗ trợ bà con trồng chè để có nguồn nguyên liệu đảm bảo chất lượng.


PHẦN 8. KẾT LUẬN VÀ ĐẾ NGHỊ
Trong thời gian thực tập giáo trình tại Công ty chè Sông Cầu, em đã được tìm hiểu, tiếp xúc với công nghệ sản xuất chè tại Công ty và được làm quen với quy trình sản xuất chè thủ công tại các hộ gia đình, em đã có them nhiều kiến thức thực tế. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng, phục vụ cho việc học tập cũng như công viêc sau này của em.
Qua đợt thực tế này, em xin có một số nhận xét như sau:
1. Mặt tốt
Giải quyết vấn dề việc làm cho nhiều nhân dân trong vùng.
Tận dụng chế biến một lượng lớn nguyên liệu của Công ty và nhân dân trong vùng.
Hàng năm sản xuất được khối lượng lớn chè các loại phục vụ cho nhu cầu của người dân trong nước cũng như xuất khẩu.
Góp phần gia tăng thu nhập, nâng cao hiệu quả kinh tểtong vùng miền.
2. Cần khắc phục
Chất lượng nguyên liệu chè: yêu cầu của nguyên liệu chè là búp non (một tôm, hai hoặc ba lá non), nhưng nguyên liệu chè của nhà máy hầu hết không đạt yêu cầu. Làm ảnh hưởng tới các công đoạn sau cũng như chất lượng sản phẩm.
Dây chuyền thiết bị: cũ ảnh hưởng tới năng suất và giá thành sản phẩm.
Điều kiện nhà xưởng: chưa đầy đủ.
Vệ sinh an toàn thực phẩm: chưa xây dựng được vùng nguyên liệu sạch, đạt tiêu chuẩn, ảnh hưởng tới quá trình xây dựng thương hiệu của Công ty
Tài liệu