Con người là sản phẩm của tự nhiên và tự nhiên mang lại cho con người biết bao nhiêu nguồn sống, song chính tự nhiên cũng mang lại cho con người rất nhiều tai họa như bão tố, núi lửa phun, động đất, sóng thần, mưa đá, lũ lụt. . . gây ra.

Con người đã biết tạo ra những sản phẩm phục vụ cho cuộc sống của mình. Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, sản phẩm càng hiện đại, phong phú. Chính những sản phẩm này vừa mang lại lợi ích cho con người vừa có nguy cơ tiềm ẩn gây ra thiệt hại về tính mạng, tài sản của con người. Chẳng hạn, các phương tiện giao thông hiện đại (xe cơ giới, máy bay, tàu thủy…), giúp con người đi lại nhanh chóng, tiết kiệm thời gian, công sức, thế nhưng chúng cũng gây ra nhiều tai nạn giao thông. Năng lượng hạt nhân mang đến nguồn điện năng phục vụ đời sống con người song những hiểm họa do nó gây ra (như vụ nổ nhà máy Trecnobưl ở Liên Xô cũ) cũng không thể lường trước được.

Nói chung, khát vọng của con người là chinh phục tự nhiên và làm chủ xã hội, nhưng cho dù khoa học – kỹ thuật có tiến bộ đến mức nào, khoa học tổ chức quản lý có phát triển đến đâu, kỹ thuật phòng chống hiểm họa có tối tân đến mấy, con người vẫn sẽ luôn luôn bất lực trước những sự cố rủi ro, bất ngờ… dù có cố gắng hết sức mình, con người vẫn chỉ có khả năng hạn chế phần nào những sự cố rủi ro tổn thất chứ không thể nào triệt tiêu hết những tác hại do chúng gây ra cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của con người.

Không thể nào loại trừ hết những rủi ro, nên từ xa xưa con người đã biết nghĩ ra cách cộng đồng hóa rủi ro. Đó là, trước những hậu quả nặng nề về tính mạng, sức khỏe, tài sản do sự cố ngoài ý muốn gây ra, con người biết đoàn kết lại cùng nhau chia sẻ, gánh chịu tổn thất. Nếu thiệt hại quá lớn mà chỉ một cá nhân hay một tập thể đơn phương gánh chịu, có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động bình thường, gây bất ổn trong sản xuất kinh doanh và đời sống, thậm chí dẫn đến nguy cơ phá sản. “Nếu hậu quả của hiểm họa này được chia sẻ, phân tán thật rộng cho nhiều cá thể, tập thể khác, hậu quả tổn thất, thiệt hại sẽ bớt nặng nề và ai nấy đều có thể gánh chịu được một cách dễ dàng, không chút ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, sinh hoạt của mình.”.

Nghiên cứu lịch sử phát triển xã hội loài người, chúng ta thấy:

Năm 4.500 trước Công nguyên, tại hạ Ai Cập, những người thợ đẽo đá đã biết hình thành những “Quỹ tương trợ” để giúp đỡ lẫn nhau khi chẳng may có ai bị tai nạn trong quá trình lao động. Đây chính là một ý niệm về bảo hiểm: “lấy số đông bù số ít”.

Năm 3.000 trước CN, tại Trung Quốc, các lái buôn đã biết phân chia hàng hóa ra nhiều thuyền nhỏ thay vì chuyên chở tất cả trên một chiếc thuyền lớn, để tránh tổn thất toàn bộ khi lưu thông trên sông hồ, biển cả. Đây là ý niệm “không nên bỏ tất cả trứng vào một giỏ” và cũng là nguyên lý “phân tán rủi ro” trong bảo hiểm.

Năm 2.250 trước CN, tại Babylon, các nhà buôn đã thuê những người chuyên chở bằng lạc đà (gọi là Darmathe) vận chuyển hàng hóa với điều kiện là nếu kinh doanh suông sẻ, các nhà buôn sẽ chia cho họ phân nửa tiền lãi, ngược lại nếu bị lỗ vốn, các Darmathe sẽ phải đền bù. Tuy nhiên nếu hàng hóa bị cướp bóc mà không có sự đồng lõa của Darmathe thì họ cũng khỏi phải bồi thường. Đây là khái niệm “miễn trách“ trong ngành hàng hải, được áp dụng cho đến ngày nay .

Năm 916 trước CN, tại Rhodes, Hoàng đế xứ này đã ban hành các đạo luật để bảo vệ các thương gia: Chủ hàng, chủ tàu nào không bị hy sinh trong biến cố hàng hải, phải bù đắp cho chủ hàng, chủ tàu bị thiệt hại vì phải hy sinh hàng hóa để cứu tàu, cứu hàng khi con tàu gặp nạn. Đây là khái niệm “tổn thất chung”.

Từ những ý niệm thô sơ nói trên, trải qua thời gian hàng ngàn năm, con người đã tổng kết lại, thể chế hóa bằng các kỹ thuật bảo hiểm, nguyên tắc bảo hiểm, để hình thành khái niệm bảo hiểm một cách khoa học. Từ đó người ta đã xây dựng những quy tắc, điều khoản bảo hiểm làm cơ sở cho việc ký kết hợp đồng bảo hiểm (HĐBH).

Người ta đã ghi nhận rằng vào đầu thế kỷ XIV, tại Italia, HĐBH hàng hải đầu tiên đã được ký kết trên bến cảng Genoa, bên bờ Địa Trung Hải nhằm ngày 23.10.1347.

Còn tại Anh Quốc, trước thế kỷ XVII đã có loại hình bảo hiểm hàng hải và đã có HĐBH được ký kết vào năm 1547, song mãi đến cuối thế kỷ XVII, tại quán cà phê do ông Edward LIoyd làm chủ (LIoyd’s Coffee House), bảo hiểm mới chính thức trở thành một dịch vụ kinh doanh có tổ chức. Những qui tắc, điều khoản bảo hiểm, đơn bảo hiểm hàng hải được ký kết giữa Người-Bảo-Hiểm (The Insurer) và Người-Được-Bảo-Hiểm (The Isured) do LIoyd’s cấp, dần dần được tiêu chuẩn hóa, không những tại Anh mà nhiều nước trên thế giới công nhận và áp dụng. Ngày nay LIoyd’s London đã trở thành một Trung tâm Bảo hiểm Quốc tế về tàu và hàng hóa nổi tiếng trên thế giới.

Khoảng đầu thế kỷ XVIII, tại Châu Âu, ngành công nghiệp phát triển dẫn đến các nhu cầu bảo hiểm trên đất liền:

Bảo hiểm hỏa hoạn đã ra đời tại Anh, sau vụ hỏa tai khủng khiếp ở London vào tháng 9/1966, thiêu hủy trên 13.000 căn nhà, đó là văn phòng bảo hiểm hỏa hoạn đầu tiên do Nicholas Barbon thành lập vào năm 1967, với tên gọi đơn giản là “Phòng Hỏa hoạn” (The Fire Office). Tuy nhiên, Công ty bảo hiểm hỏa hoạn đầu tiên, được tổ chức với quy mô lớn hơn phải nói là công ty “the Sun Insurance Office Of London” ra đời năm 1710 và vẫn còn hoạt động đến ngày nay. Sau đó lần lượt tại Đức, Pháp… cũng triển khai dịch vụ bảo hiểm này.

Bảo hiểm nhân thọ cũng đã được ghi nhận hình thành rất sớm, vào năm 1583, HĐBH nhân thọ Anh quốc (“English Life Insurance Policy”) lần đầu được xác lập, nhưng chưa được người ta hưởng ứng mạnh mẽ lắm. Ở Hoa Kỳ, năm 1759, Công ty Bảo hiểm Nhân thọ đầu tiên đã được thiết lập: “Tập đoàn giúp cho việc hạn chế sự nghèo khó và những tín đồ túng quẫn, những người quá bụa, trẻ em nghèo và cùng khổ”, song tập đoàn chỉ đảm bảo cho các thành viên của nhà thờ mà họ sở hữu mà thôi. Đến năm 1762, tại Anh, người ta đã thành lập “Hội bảo đảm công bằng cho những người sống và người thừa kế”, đây là công ty đầu tiên thực hiện loại hình bảo hiểm nhân thọ cho cộng đồng. Loại hình này thực sự phát triển khi cuộc Cách mạng Công nghiệp nổ ra vào đầu thế kỷ XIX, với nhiều công ty, xí nghiệp mới được thành lập, kéo theo số lượng công nhân đuợc tuyển dụng vào các nhà máy, xí nghiệp sản xuất ngày càng đông và do đó, số vụ tai nạn lao động xảy ra ở những nơi đó cũng ngày càng tăng. Nhu cầu bù đắp những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe cho người lao động khi xảy ra tai nạn và các luật lệ về an toàn lao động, qui định về trách nhiệm của chủ đối với công nhân nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng cho người lao động… là một thực tế được các nhà bảo hiểm quan tâm phát triển loại hình bảo hiểm nhân thọ và các loại hình bảo hiểm khác liên quan đến con người.

Sự phát minh ra các phương tiện giao thông hiện đại (ô tô, tàu thủy, máy bay…) đã mang lại cho con người sự tiện nghi trong sinh hoạt, đi lại, thương mại và giao lưu văn hóa với nhau, song đây cũng là nguồn nguy hiểm cao độ có khả năng gây ra những thiệt hại về tính mạng và tài sản cho người thứ ba. Do đó, các loại hình bảo hiểm xe ô tô và bảo hiểm các phương tiện giao thông cơ giới khác ra đời.

Ngành công nghiệp dầu khí phát triển kéo theo sự xuất hiện của nhiều loại hình bảo hiểm phục vụ cho việc thăm dò, khai thác, chế biến, vận chuyển dầu khí, nguồn năng lượng chủ yếu trong thế kỷ của chúng ta.

Các ngành kinh doanh, dịch vụ trên thế giới này ngày càng phát triển, đời sống con người ngày càng văn minh tiến bộ, người ta ngày càng quan tâm đến việc đảm bảo cho tính mạng, sức khỏe và tài sản của họ, đồng thời người ta cũng biết rằng, không thể nào loại trừ hết tất cả những rủi ro ra khỏi sản xuất kinh doanh và cuộc sống của con người, nên càng ngày người ta càng nhận thức được vai trò và lợi ích của bảo hiểm. Chỉ có bảo hiểm mới là phương tiện hữu hiệu giúp cho cuộc sống con người được ổn định, hoạt động sản xuất – kinh doanh được tiến hành thường xuyên, liên tục khi chẳng may gặp những sự cố rủi ro, tai nạn bất ngờ… Bảo hiểm ngày nay thực sự trở thành một phạm trù kinh tế hiện đại.