Information
GIÁ TRỊ NỒNG ĐỘ ĐỈNH ESTRADIOL Ở NHỮNG CHU KỲ KÍCH THÍCH BUỒNG TRỨNG TRONG THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM

TÓM TẮT


Mục tiêu: Đánh giá mối liên quan giữa giá trị nồng độ đỉnh estradiol (E2) cao và kết cục điều trị của những chu kỳ kích thích buồng trứng có kiểm soát (COH) trong thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) tại bệnh viện Hùng Vương.

Thiết kế nghiên cứu: Đoàn hệ tiền cứu.


Kết quả: Tùy theo nồng độ đỉnh estradiol của bệnh nhân, chúng tôi chia hai nhóm bệnh nhân: ≥4300 pg/ml (nồng độ đỉnh estradiol cao), và <4300 pg/ml. Tỉ lệ có thai lâm sàng của nhóm bệnh nhân có nồng độ đỉnh estradiol cao cao hơn có ý nghĩa so với nhóm <4300 pg/ml (OR = 2,7, KTC 95% = 1,4 – 5,3). Tuy nhiên, tỉ lệ làm tổ và tỉ lệ phôi có thể sử dụng được của hai nhóm thì tương đương nhau. Tỉ lệ có thai của những bệnh nhân ≥35 tuổi thấp hơn những bệnh nhân <35 tuổi (OR = 0,4, KTC 95% = 0,2 – 0,9).

Kết luận: Tỉ lệ có thai lâm sàng được cải thiện với nồng độ đỉnh estradiol cao ởnhững chu kỳ IVF.


GIỚI THIỆU


Từ khi Louise Brown - em bé đầu tiên ra đời nhờ kỹ thuật IVF vào năm 1978 tại nước Anh, IVF trở thành một trong những phương pháp điều trị không còn xa lạ với các trường hợp hiếm muộn.

Trong hầu hết các chu kỳ IVF, gonadotrophins ngoại sinh được sử dụng một mình hay kết hợp nhằm gia tăng số nang noãn thu nhận vào nhóm nan g noãn phát triển và duy trì đến giai đoạn phóng noãn. Quá trình này gọi là kích thích buồng trứng có kiểm soát. Nhờ sự chiêu tập một số lượng lớn nang noãn này sẽ tăng số trứng thu được, tăng cơ hội có trứng thụ tinh, tăng số phôi có thể chuyển phôi, và tỉ lệ thành công IVF cao hơn. Do sự phát triển đa nang noãn, nồng độ estradiol vượt cao trên mức sinh lý bình thường, có thể đạt hơn gấp mười lần nồng độ estradiol của chu kỳ tự nhiên(Error! Reference source not found.). Dưới sự tác động của hormone steroid này sẽ làm thay đổi nội mạc tử cung, có thể ảnh hưởng sự tiếp nhận phôi làm tổ.

Tuy nhiên, ảnh hưởng của sự gia tăng nồng độ estradiol như vậy lên kết cục của chu kỳ IVF vẫn còn bàn cãi với những bằng chứng trái ngược nhau. Sự tăng chế tiết hormone steroid buồng trứng có thể ảnh hưởng xấu lên sự tiếp nhận phôi làm tổ của nội mạc tử cung(Error! Reference source not found.). Tuy nhiên một số tác giả khác không tìm thấy điều này. A. J. Levi thấy tỉ lệ có thai giữa nhóm bệnh nhân trẻ thực hiên IVF, có nồng độ estradiol cao tương đương với nhómbệnh nhân thực hiện IVF xin trứng, không được kích thích buồng trứng(Error! Reference source not found.). Ngược lại, H.W.Jones lại báo cáo rằng sự gia tăng giá trị nồng độ estradiol tại thời điểm chích hCG lại làm tăng tỉ lệ thành công của IVF(Error! Reference source not found.). Nồng độ estradiol còn phản ánh đáp ứng của bệnh nhân với kích thích buồng trứng. Simon C và cộng sự đã phân ra bệnh
nhân có đáp ứng cao là khi nồng độ đỉnh estradiol >3000 pg/ml, tuy nhiên tác giả không giải thích tại sao chọn mức estradiol này(Error! Reference source not found.). Một nghiên cứu khác cũng định nghĩa bệnh nhân có đáp ứng cao là những người có nồng độ đỉnh estradiol trên mức bách phân vị 75(Error! Reference source not found.), cho thấy tỉ lệ có thai của nhóm này cao hơn so với nhóm bệnh nhân có đáp ứng bình thường tức nồng độ đỉnh dưới mức bách phân vị 75.

Tại Việt Nam, chưa có nhiều công trình nghiên cứu vấn đề này. Do đó, nghiên cứu của chúng tôi nhằm đánh giá giá trị nồng độ đỉnh estradiol ở những chu kỳ kích thích buồng trứng có kiểm soát với tỉ lệ có thai của những bệnh nhân thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm tại khoa Hiếm Muộn, bệnh viện Hùng Vương.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU


Thiết kế nghiên cứu


Nghiên cứu đoàn hệ tiền cứu


Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân đến khám tại khoa Hiếm Muộn, bệnh viện Hùng Vương có chỉ địnhvà thực hiện IVF từ tháng 5/2005 đến tháng 5/2008.


Tiêu chuẩn nhận bệnh


Các trường hợp thực hiện COH của chu kỳ IVF, đã được theo dõi nồng độestradiol huyết thanh cho đến ngày chích hCG, và được chuyển phôi.


Tiêu chuẩn loại trừ


Những chu kỳ IVF xin trứng, chu kỳ chuyển phôi rã đông.


Cách tiến hành nghiên cứu


Tất cả các bệnh nhân đều được sử dụng phác đồ dài pha 2. Tuyến yên được giải mẫn cảm bằng GnRH đồng vận (Diphereline 0.1mg). Kích thích buồng trứng bắt đầu khi không có nang noãn nào vượt trội, độ dày nội mạc tử cung
<8 mm, nồng độ estradiol huyết thanh <50 pg/ml. Bệnh nhân được kíchthích buồng trứng bằng FSH tái tổ hợp (Puregon, Gonal- F) liều từ 150 - 450UI/ngày. Tiêu chuẩn khởi động sự trưởng thành nang noãn bằng hCG 10000UI (Pregnyl) khi đạt tối thiểu 3 nang noãn có đường kính trung bình trên18mm trên siêu âm. Quá trình kích thích buồng trứng được theo dõi dựa trên siêu âm xác định số lượng, kích thước nang noãn, độ dày nội mạc tử cung và định lượng nồng độ estradiol. Dựa trên nồng độ estradiol vào ngày chích hCG, chúng tôi phân nhóm bệnh nhân.

Nhóm 1: Nồng độ estradiol vào ngày chích hCG <4300 pg/ml

Nhóm 2: Nồng độ estradiol vào ngày chích hCG ≥4300 pg/ml


Chọc hút trứng dưới sự hướng dẫn của siêu âm đầu dò âm đạo được thực hiện36 giờ sau chích hCG. Chuyển phôi dưới hướng dẫn siêu âm vào ngày 2. Cả 2nhóm nghiên cứu đều được hỗ trợ pha hoàng thể bằng progesteron tự nhiên(Utrogestan) đặt âm đạo 600mg/ngày. Nồng độ hCG huyết thanh được thửsau 14 ngày chuyển phôi. Nếu kết quả dương, siêu âm đầu dò âm đạo thực hiện4 tuần sau chuyển phôi. Thai lâm sàng được xác định khi thấy được tim thaitrên siêu âm.
Tài liệu