Information
CAN THIỆP NỘI MẠCH ĐIỀU TRỊ TÚI PHÌNH ĐỘNG MẠCH NÃO


TÓM TẮT


Giới thiệu chung:Túi phình động mạch não là nguyên nhân chính gây xuất huyết khoang dưới nhện.Trải qua khoảng 20 năm từ khi phương pháp đặt Coils trong lòng mạch ra đời đến nay phương pháp này đã trở nên phổ biến và được ứng dụng rộng rãi vì sự hiệu quả, an toàn, và ít xâm lấn. Ở nước ta đây là phương pháp điều trị khá mới, chỉ được thực hiện tại vài trung tâm do đó việc nghiên cứu để ứng dụng phương pháp này là điều rất cần thiết.

Mục tiêu nghiên cứu: Phân tích đặc điểm lâm sàng và hình ảnh học của túi phình động mạch não. Đánh giá kết quả sau can thiệp nội mạch điều trị túi phình động mạch não về tính hiệu quả và độ an toàn.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Đối tương nghiên cứu: tất cả những bệnh nhân được chẩn đoán túi phình động mạch não được điều trị bằng phương pháp can thiệp nội mạch từ tháng 10 năm 2004 đến tháng 11 năm 2008 tại BVĐHYD TPHCM. Đây là nghiên cứu tiền cứu cắt ngang.

Phương pháp thực hiện và phương tiện: can thiệp nội mạch được thực hiện sử dụng máy chụp mạch máu kỹ thuật số xóa nền DSA (Digital Subtraction Angiography), các ống thông được luồn từ động mạch đùi lên đến vị trí động

mạch bị phình và tùy theo đặc điểm hình thái của túi phình mà các vật liệu gây tắc là coil hay bóng được sử dụng để bít túi phình và trong những trường hợp đặt biệt như túi phình cổ rộng hay phình bóc tách thì cần phải sử dụng khung giá đỡ (Stent) để điều trị.

Kết quả nghiên cứu: Trong 60 trường hợp được điều trị: vị trí túi phình ở tuần hoàn trước chiếm 81,7% tuần hoàn sau 18,3% (11 ca). Túi phình sau chấn thương chiếm 10%. Túi phình đã vỡ gây xuất huyết dưới nhện chiếm 76,6% (46), phình chưa vỡ 23,3% trong đó túi phình khổng lồ tạo huyết khối lấp mạch não là 3,3%. Can thiệp bít được hoàn toàn túi phình trong 96,6%, không đưa được ống thông vào lòng túi phình trong 1,7%, tai biến liệt nữa người sau thủ thuật là 3,3%, tỉ lệ tử vong liên quan đến thủ thuật là 1,7%.

Kết luận: Sau hơn 3 năm triển khai thực hiện can thiệp nội mạch điều trị túi phình động mạch não, qua 60 trường hợp được thực hiện tại BVĐHYD cho thấy đây là phương pháp điều trị đem lại hiệu quả cao, ít xâm lấn, nhất là trong những trường hợp túi phình không thuận lợi cho phẫu thuật thì phương pháp này nên được chọn lựa đầu tiên.

ABSTRACT


ENDOVASCULAR TREATMENT OF CEREBRAL ANEURYSM REVIEW


60 CONSECUTIVE CASES IN MEDICAL UNIVERSITY CENTER OF HCM CITY

Tran Chi Cuong, Tran Trieu Quoc Cuong,Vo Tan Son, Huynh Hong Chau


* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 13 – Supplement of No 1 - 2009: 244 - 251


Introduction: Cerebral aneur ysm is one of the most common causes of subarachnoid hemorrhage. During the last 20 years from the first coilling procedure was performed to nowadays it has been more and more spreader because of its efficacy, safety and less invasive procedure. In Vietnam this kind of treatment is not common, it has been performed in only some hospitals, so it is very important to understand and evaluate for further practice.

Objectives: To analyze clinical presentation and diagnostic imaging of cerebral aneurysm. To evaluate the efficacy, safety and result after endovascular treatment of cerebral aneurysm.

Method: Population: All of the patient who was diagnosed cerebral aneurysm admitted to University Medical Center of HCM city and underwent endovascular treatment procedure from October 2004 to November 2008. This is a prospective study.

Procedure abstract and equipment: Endovascular procedure was performed using a Digital Subtraction Angiography (DSA) system, after transfemoral artery approach catheters were advanced over a guidewire to the aneurysm and depending on aneurysm specifically which will be required coil embolization

alone or balloon-assisted remodeling or stent-assisted coilling for wide-neck aneurysm and dissecting aneurysm.

Result: Among 60 cases: aneurysm was found in anterior circulation in 81.7% and posterior circulation in 18.3%. Traumatic aneurysm accounts for 10%. Rupture aneurysm causes subarachnoid hemorrhage (SAH) 76.6%, unruptured aneurysm 23.3% in which giant and thrombus aneurysm causes embolus stroke in 3.3%. The aneurysm was totally occluded in 96.6%, failed to approach the aneurysm 1.7%, hemiparesis complication 3.3%, mortality rate was 1.7%.

Conclusion: After more than 3 years, we have developed endovascular procedure for treatment of cerebral aneurysm, experienced 60 cases were performed in University Medical Center of HCM city, showing us this is a highly efficacy procedure with less invasive, especially in the aneurysm case of high risk for surgery, endovascular procedure should be indicated as a first choice.

ĐẶT VẤN ĐỀ


Theo thống kê ở Mỹ mổi năm có khoảng 25.000-30.000 ca xuất huết dưới nhện không do chấn thương, trong đó khoảng 80% là do vỡ túi phình mạch máu não. Hai tác giả Inagawa và Hirano giải phẫu 10.259 xác từ 1951-1987 họ tìm thấy84 trường hợp có túi phình mạch máu não với 102 túi phình, và ước tính tỉ lệtúi phình mạch máu não trong dân số là 8/1000 dân. Theo hội đột quỵ Hoa Kỳ thì 1,5-5% dân số có túi phình hoặc sẽ mắc bệnh túi phình mạch máu não, nhưng phần lớn các trường hợp không phát hiện được lúc túi phình chưa vỡ. Nguy cơ vỡ túi phình hàng năm theo thống kê là từ 0,5-3%. Ở nước ta vỡ túi phình mạch máu não gây xuất huyết dưới nhện cũng là bệnh lý khá thường gặp, tuy nhiên việc chẩn đoán xác định, điều trị kịp thời và triệt để túi phình còn là một khó khăn lớn tại đa số các bệnh viện. Ngày nay bên cạnh điều trị hồi sức nội khoa sau xuất huyết dưới nhện việc chẩn đoán xác định túi phình bằng chụp mạch máu và điều trị triệt để túi phình càng sớm càng tốt là nguyên tắc chung trong thực hành.

Có hai phương pháp điều trị túi phình mạch máu não: phẫu thuật kẹp túi phình và can thiệp nội mạch bít túi phình. Phẫu thuật là phương pháp được thực hiện từ lâu, tuy nhiên có nhiều trường hợp túi phình không thể phẫu thuật được như vị vị trí sâu, không bộc lộ được cổ, bệnh nhân nhiều nguy cơ cho phẫu thuật: tiểu đường, quá lớn tuổi…thì phẫu thuật không thực hiện được. Ngày nay với sự phát triển của kỹ thuật can thiệp nội mạch qua khoảng 20 năm hình thành và phát triển trên thế giới phương pháp này đang được ứng dụng rộng rãi tại hầu hết các quốc gia vì sự hiệu quả cao, ít xâm lấn và an toàn. Do đó việc nghiên cứu ứng dụng và phổ biến phương pháp này ở nước ta là điều hết sức cần thiết để điều trị bệnh nhân tốt hơn.

Tổng quan bệnh phình động mạch não


Phân loại


Túi phình mạch máu não được phân loại dựa vào: hình thái, kích thước, vị trí, và nguyên nhân(16). Về hình thái, túi phình được phân thành 3 loại: túi phình dạng túi (saccular), dạng hình thoi (fusiform) và dạng bóc tách (dissecting). Túi phình có thể là đơn độc trong 70-75% trường hợp, hay có thể nhiều hơn một túi trong khoảng 25-30%. Vị trí túi phình thường gặp ở đa giác Willis(Error! Referencesource not found.), khoảng 85% nằm ở tuần hoàn trước, 15% thuộc tuần hoànsau(Error! Reference source not found.).Về kích thước: dưới 5mm là túi phình nhỏ, trên25mm là túi phình khổng lồ. Có nhiều giả thuyết được đặt ra trong sinh bệnh học của sự hình thành và phát triển của túi phình như: sự gia tăng áp lực động mạch trong tăng huyết áp, các liên quan về giải phẫu vùng đa giác Willis, sự thay đổi dòng chảy của máu, và các yếu tố bên ngoài như: xơ vữa mạch, hút thuốc lá, nghiện rượu, dùng thuốc chống đông, thuốc ngừa thai là các yếu tố có liên quan đến sự hình thành túi phình mạch não(Error! Reference source not found.,Error!Reference source not found.). Các nguyên nhân có thể gây túi phình mạch máu não nhưhình sau chấn thương mạch máu, phình do nhiễm (vi trùng hoặc nấm), nghiện ma túy và các khối u tăng sinh. Túi phình rất hiếm gặp ở trẻ em, và gần như chưa bao giờ gặp ở trẻ sơ sinh(Error! Reference source not found.). Nếu ở trẻ em phát hiệncó túi phình mạch máu não vỡ thì thường kèm theo một bệnh nền tảng của môliên kết.
Tài liệu